Tìm kiếmĐăng ký thành viên  >  Đăng nhập    Liên hệ  |  English    
  

Trang chủ



Thư viện trực tuyến



 Hệ thống hàng hải điện tử
 Hệ thống vệ tinh dẫn đường
 White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands 1975
 Địa đàng ở Phương Đông
 The Hoang Sa and Truong Sa Arhipelagoes and International Law VN-MOFA 1988
 The Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes Vietnamese Territories VN-MOFA 1981
 United Nations Convention on the Law of the Sea
 Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands
 The Sino-Vietnamese Difference on the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes
 Toán Hàng hải
 Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại QĐ HS-TS (Vn)
 The Course to Establish the Sovereignty of Vietnam over Paracels and Spratlys
 黄沙諸島・長沙諸島におけるベトナムの主権確立過程
 Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại QĐ HS-TS (Ch)
 Tập San Sử Địa - Số 29



1. Thử đặt vấn đề Hoàng Sa
2. Quần đảo Hoàng Sa
3. Phúc trình về công tác nghiên cứu phốt phát lần cuối cùng
4. Phúc trình cuộc thám sát hòn Nam Yít thuộc QĐ Trường Sa
5. Những sử liệu tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam
6. Hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa giữa Đông Hải
7. Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam
8. Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam
9. Thử khảo sát về quần đảo Hoàng Sa
10. Hoàng sa dưới mắt nhà địa chất H. Fontaine
11. Phương diện địa danh học của hai quần đảo HS và TS
12. Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa



. Giới thiệu
. Phản ứng đối với lời tuyên bố của tổng thống Phi Luật Tân Quirino (1951)
. Dịp có Hòa hội Cựu Kim Sơn (1951) - Hòa ước San Francisco 1951
. Phản ứng của Trung Quốc đối với việc Phi Luật Tân đòi chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa (1956)
. Dịp Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ ngư dân Trung Cộng (1959)
. Phản ứng đối với lời tuyên bố của Tổng thống Phi Luật Tân về chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa (1971)
. Luận cứ nêu ra trong vụ đụng độ hải quân với Việt Nam Cộng Hòa (1974)
. Các tuyên bố của Trung Quốc từ sau trận hải chiến tháng 1/1974
. Kết luận
. Chú thích và Tài liệu tham khảo




14. Hoàng Sa qua vài tài liệu văn khố của hội truyền giáo Ba-Lê
15. Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền của Việt Nam
16. Hoàng Sa qua những nhân chứng
17. Thư mục chú giải về Hoàng Sa






Tài liệu tham khảo
Tra cứu



Thảo luận



Tạp chí trực tuyến



Các bản tin







Các tuyên bố của Trung Quốc từ sau trận hải chiến tháng 1/1974
Người gửi: HaiAuVIN

VII. CÁC TUYÊN BỐ CỦA TRUNG-QUỐC TỪ SAU TRẬN HẢI CHIẾN THÁNG 1/1974

Sau khi quần đảo Hoàng-sa bị Trung-Cộng đánh chiếm tháng 1/1974, các chính phủ Trung-quốc, cả Cộng-sản lẫn Quốc-dân đảng, mỗi khi có dịp vẫn tiếp tục lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa(65). Tuy nhiên, với thời gian, các tuyên bố của chính phủ đó ngày một thưa dần, nhường chỗ cho các tư nhân lên tiếng thay thế. Tất cả những tuyên bố này đều nhắc lại hầu như là nguyên văn các tuyên bố chúng ta đã xét trên đây, không có gì khác biệt hay mới lạ. Trong phần này chúng tôi chỉ nêu ra phải thí dụ điển hình thôi.


A. Tuyên Bố Ngày 30.3.1974

Cuối tháng 3 năm 1974, trong khóa họp thứ 30 của Hội Nghị của Ủy Hội Kinh Tế Á-châu Viễn-đông (hay Á-Viễn Kinh Ủy Hội) thuộc Liên-hiệp-quốc nhóm tại Colombo (thủ đô nước Tích-lan), khi phái đoàn Việt-nam Cộng-hòa lên án vụ Trung-Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa của Việt-nam, đại biểu Trung-Cộng là Chi-Lung (chúng tôi không rõ âm Hán-Việt của tên này) ngày 30.3.1974 đã lên tiếng(66).

Chi-Lung bác bỏ lập luận của phái đoàn Việt-nam Cộng Hòa mà ông gọi là "chủ trương vô liêm sỉ" và tái xác định lập trường của Trung-Cộng về chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung-quốc đối với hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cùng là các hải khu quanh đó. Ông nói thêm là điều 4 chương trình nghị sự của khóa họp hiện tại đã ghi hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa là các khu đảo cận hải của nhà cầm quyền Sài-gòn ở Nam-Việt và còn ghi thêm là "đã có khế ước thám sát và phát triển khoảng 30 khu [như vậy] ở Nam-hải." Đoạn Chi-Lung tuyên bố:


"Quần đảo Tây-sa và quần đảo Nam-sa ở Nam-hải vốn dĩ là một phần bất khả phân của lãnh thổ Trung-quốc. Nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị trên những quần đảo này cũng như là các hải khu quanh đó. Mặt khác, vào ngày 15.8.1951, trong một Tuyên bố về Dự Thảo Hòa Ước với Nhật-bản của Anh, Mỹ và Hội nghị Cựu-kim-sơn, Bộ trưởng Ngoại giao Châu Ân-lai đã long trọng tuyên bố là 'cũng như các quần đảo Nam-sa, Trung-sa và Đông-sa, quần đảo Tây-sa và đảo Nam-uy lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung-quốc. Mặc dù những đảo này đã có lúc bị Nhật-bản chiếm đóng một thời gian trong trận chiến tranh xâm lăng của đế quốc chủ nghĩa Nhật-bản, sau khi Nhật-bản đầu hàng, Chính phủ Trung-quốc đã thu hồi những quần đảo này.' Từ đó trở đi Chính phủ Trung-quốc đã nhiều lần nhắc lại lập trường này.

"Việc văn phòng hội nghị ghi trong tài liệu nói trên rằng quần đảo Tây-sa và Nam-sa của Trung-quốc là các đảo cận hải của chính quyền Sài-gòn ở Nam-Việt là một việc sai lầm. Phái đoàn Trung-quốc yêu cầu văn phòng áp dụng mọi biện pháp để sửa lại lỗi lầm này để sau này không tái diễn việc tương tự nữa."


Trước lời phản đối kịch liệt của đại biểu Việt-nam Cộng-hòa, mà Trung-Cộng gọi là "gào đòi chủ quyền" trên quần đảo Hoàng-sa và "khả ố tấn công Trung-quốc", Chi-Lung lại lên tiếng cho rằng hành động của Việt-nam Cộng-hòa chỉ cốt để "che đậy sự xâm lăng của mình một cách lão luyện". Ông nói thêm rằng "Nhà cầm quyền Sài-gòn từ lâu đã muốn chiếm quần đảo Tây-sa và quần đảo Nam-sa của Trung-quốc" bằng cách "chẳng những là đã sáp nhập vào lãnh thổ của chúng hơn mười đảo của Trung-quốc, kể cả đảo Nam-uy và đảo Thái-bình thuộc nhóm quần đảo Nam-sa, mà lại còn công khai khiêu khích võ trang chống Trung-quốc và chiếm lãnh thổ của Trung-quốc bằng võ lực", một việc Chi-Lung coi là "hết sức mặt dạn mày dầy". Đoạn ông ta "tái khẳng định chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung-quốc đối với những quần đảo này và những hải khu chung quanh đó" và kết luận là "Chính phủ Trung-quốc sẽ không bao giờ để cho nhà cầm quyền Sài-gòn xâm lấn chủ quyền lãnh thổ của Trung-quốc bằng bất cứ lý do gì" cũng như là "Lập trường này của Chính phủ Trung-quốc cương quyết và bất di bất dịch."

Ngoài những lời lẽ thô bỉ và kém lễ độ không xứng đáng với tư cách đại diện quốc gia tại hội nghị quốc tế (“chủ trương vô liêm xỉ”, “gào đòi chủ quyền”, “khả ố tấn công”, “hết sức mặt dạn mày dầy”, v.v.), lời tuyên bố của Chi-Lung chẳng qua chỉ là nhai đi nhai lại những luận cứ cũ rích của Trung-Cộng và không mang thêm một chi tiết mới lạ nào cả.

Tiện đây chúng ta cũng nên biết thêm là kể từ khi xảy ra trận hải chiến tháng 1/1974 và sau vụ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa, các tuyên bố của chính phủ Trung-Cộng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa, cũng như về bất cứ vấn đề gì khác có liên quan tới Việt-nam Cộng-hòa, đã càng ngày càng dùng nhiều lời lẽ thô bỉ đối với Việt-nam Cộng-hòa. Sở dĩ nhà cầm quyền Tử-cấm Thành phải dùng đến thái độ này có lẽ là vì họ biết rằng họ bị đuối lý không thể tranh luận một cách đứng đắn với Việt-nam Cộng-hòa về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa nên đành phải dùng đến hình thức này, một hình thức Trung-Cộng tỏ ra rất điêu luyện.


B. Tham Luận Ngày 2.7.1974

Ngoài ra, tại Hội nghị Liên-hiệp-quốc về Luật Biển kỳ 2 nhóm tại Caracas, thủ đô nước Venezuela, từ 20.6 đến 29.8.1974, trong một bài tham luận đọc trước hội nghị ngày 2.7.1974, trưởng phái đoàn Trung-Cộng tham dự hội nghị là Thứ trưởng Ngoại thương Sài Thụ-phiên đã bác bỏ những lời tố cáo của phái đoàn Việt-nam Cộng-hòa về việc Trung-Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-sa và khẳng định là:


"Quần đảo Tây-sa và Nam-sa ở Nam-hải xưa nay vẫn là một phần lãnh thổ không thể chia cắt của Trung-quốc, quyết không cho phép nhà cầm quyền Sài-gòn vì bất cứ cớ nào xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung-quốc."(67)


Giống như các tuyên bố khác của Trung-Cộng, tham luận của họ Sài không nêu ra một bằng chứng nào để cho hội nghị thấy rõ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa quả thực thuộc về Trung-quốc. Lời khẳng định của họ Sài không có gì đáng chúng ta chú ý, ngoại trừ cụm từ "xưa nay" được gài thêm mà trong các tuyên bố trước đây không có, giống như cụm từ “từ thời xa xưa” của Bộ trưởng Ngoại giao Đài-loan Châu Thư-giai (đã nói ở phần V bên trên). Từ này được thêm có lẽ vì từ vụ hải chiến tháng 1 năm 1974 Việt-nam Cộng-hòa đã đưa ra nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Truòng-sa thực sự thuộc về Việt-nam từ mấy thế kỷ rồi, nên Trung-Cộng phải thêm từ "xưa nay" hầu để chứng minh chủ quyền của Trung-quốc cũng có từ lâu. Tuy nhiên, bài tham luận của họ Sài, cũng như tất cả những bản tuyên bố khác của Trung-Cộng, vẫn chỉ nói mập mờ như vậy thôi, chứ không hề nêu ra được một thí dụ điển hình nào cả.


C. Các Tuyên Bố Trong Năm 1979

Mặt khác, từ sau khi Đảng Cộng-sản Việt-nam chiếm được Nam-Việt (30.4.1975) thì bang giao Việt-Hoa, vốn không mấy tốt đẹp từ thập niên 1960 trở đi, dù vẫn được các nhà cầm quyền Bắc-kinh ví như quan hệ giữa môi và răng, môi hở răng lạnh, đã trở nên suy sụp nhanh quá mức, biến thành bang giao giũa hai quốc gia thù nghịch. Ngoài vụ Việt-nam đuổi các Hoa kiều cư trú hay thổ sinh ra khỏi nước Việt-nam đưa đến việc Trung-Cộng xua quân vượt biên giới đánh mấy tỉnh ở miền bắc, việc tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa cũng leo thang. Trong năm 1979 có ít nhất là 8 lần vấn dề này được nêu ra. Quan trọng nhất có ba lần.


1. Tuyên Bố của Ngoại Trưởng Trung-Cộng Ngày 16.3.1979

Trong một buổi họp báo ở Bắc-kinh ngày 16.3.1979(68), Ngoại trưởng Trung-Cộng Hoàng-Hoa đã có mấy lời tuyên bố hết sức phi lý, không thể chấp nhận được.

Thực vậy, khi nói về vấn đề tranh chấp biên giới Việt-Hoa, Hoàng-Hoa đã nhìn nhận với các ký giả ngoại quốc là có thể có nhiều điều đáng nghi ngờ về vấn đề sở hữu "vài chục cây số vuông" dọc biên giới Hoa-Việt được qui định trong hiệp ước giữa triều đình Mãn-Thanh và nhà cầm quyền đô hộ Pháp ký vào cuối thế kỷ thứ 19(69).


Câu nói của họ Hoàng phải hiểu là vì ngu dốt không biết gì về lịch sử, địa lý, và chính trị Việt-nam (điều này có thể có được, nhưng khó tin) hoặc vì để lấy lòng nhà cầm quyền Mãn-Thanh hầu thu hoạch được lợi lớn hơn (có lẽ là nguyên nhân chính), Pháp cuối thế kỷ thứ 19 đã trao vài chục cây số vuông lãnh thổ của Việt-nam cho Trung-quốc. Cái phi lý và trơ trẽn của Hoàng-Hoa là ông ta đã tiêu biểu cho thái độ Trung-quốc khinh thị các nước nhỏ bé. Đành rằng con số vài chục cây số vuông lãnh thổ của một quốc gia quả có nhỏ bé thực, nhất là so với một nuớc có lãnh thổ bao la như Trung-quốc, với diện tích khoảng 9.600.000 cây aố vuông, nhưng nó vẫn là trọng đại đối với Việt-nam (như được diễn tả qua câu ca dao Việt-nam “bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”).

Đáng lý ra Hoàng-Hoa, với chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của mình, nghĩa là đại diện cho Trung-quốc về phương diện ngoại giao cũng như bang giao quốc tế, (a) phải thẳng thắn tuyên bố nhìn nhận chủ quyền của Việt-nam đối với vài chục cây số vuông đó; (b) phải tỏ ra là Trung-quốc hối tiếc về sự lầm lẫn này đã làm tổn hại rất lâu cho một quốc gia vốn có mấy ngàn năm bang giao với Trung-quốc và quan hệ Việt-Hoa đó, như trên đã nói, vẫn được Trung-quốc coi rất mật thiết giống như quan hệ giữa răng và môi; và (c) phải đưa ra những đề nghị để giải quyết vấn đề, dù chỉ là đề nghị sơ khởi và trên lý thuyết. Đằng này họ Hoàng chỉ nói khơi khơi rằng đó không phải là một điểm tranh chấp quan trọng. Nói cách khác, tuy nhìn nhận sự sai lầm, Trung-Cộng vẫn cứ chiếm giữ phần đất đó một cách bất hợp pháp như thường và bất chấp dư luận quốc tế.

Mặt khác, về vấn đề Hoàng-sa và Trưòng-sa, Hoàng-Hoa còn nói thêm rằng vào thời kỳ có hiệp ước nói trên Trung-quốc không thể cùng Pháp ấn định ranh giới miền lãnh hải và vì thế không thể nào có sự nghi ngờ về quyền sở hữu của Trung-quốc trên hai quần đảo Tây-sa và Nam-sa vì đã có rất nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh.

Điều đáng tiếc là Hoàng-Hoa đã không cho biết vì những lý do nào vào cuối thế kỷ thứ 19 Trung-quốc không thể ấn định ranh giới miền lãnh hải với Pháp được. Mặc dù chúng ta có thể suy luận ra được các nguyên nhân, nhưng ở đây chúng ta không cần nói đến vì không phải là mục đích của bài này. Điểm chúng ta cần nhấn mạnh là sự biện hộ rất phi lý của Hoàng-Hoa.

Chúng ta không thể nào viện cớ vì không thể ấn định ranh giới lãnh hải của một quốc gia để bảo quốc gia đó có quyền sở hữu một phần lãnh thổ nào đó. Nếu biện luận theo kiểu họ Hoàng thì chúng ta cũng có thể nói được rằng vì không thể ấn định ranh giới được nên không thể có sự nghi ngờ nào về quyền sở hữu của nước Việt-nam ở ngay chính đại lục Trung-hoa, trên một dải dất chạy từ hồ Động-đình (thuộc tỉnh Hồ-nam ngày nay) ở phía bắc và từ tỉnh Tứ-xuyên ở phía tây xuống tới phần lãnh thổ Việt-nam hiện tại vì đã có nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh. Các nhà lãnh đạo Bắc-kinh nói chung và Hoàng-Hoa nói riêng nghĩ sao về lập luận này? Trung-quốc có chịu nhìn nhận chủ quyền của Việt-nam đó không? Hơn nữa, nói theo kiểu Hoàng-Hoa thì Trung-quốc phải nhìn nhận chủ quyền của Việt-nam trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa mới đúng vì đã có rất nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh chủ quyền này. Các chứng cớ đó Việt-nam Cộng-hòa đã viện dẫn minh bạch rất nhiều lần và ai muốn cũng có thể kiểm chứng được, chứ không chỉ nói mù mờ như Hoàng-Hoa và các nhà lãnh đạo khác của Trung-Cộng đã làm.

Sau hết, cũng cần nói thêm là trong buổi họp báo này Hoàng-Hoa còn nói thêm là chính Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa năm 1958 đã nhìn nhận chủ quyền của Trung-Cộng nhưng vào mùa hè năm 1977 Thủ tướng Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa Phạm-văn-Đồng đã phủ nhận sự nhìn nhận ấy.


2. Giác Thư của Phó Thủ Tướng Trung-Cộng Ngày 23.3.1979

Một tuần sau buổi họp báo của Hoàng-Hoa, tờ Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng-sản Trung-quốc ở Bắc-kinh, đã đăng tải nguyên văn bức giác thư của Phó Thủ tướng Trung-Cộng Lý Tiên-niệm gửi Thủ tướng Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa Phạm-văn-Đồng ngày 10.6.1977 trong đó có ghi rõ bối cảnh các vụ tranh chấp biên giới giữa Trung-quốc và Việt-nam theo quan điểm của Trung-Cộng(70). Một trong những điểm nêu ra trong bức giác thư này có liên quan đến vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa.

Theo bức giác thư, ngày 15.6.1956 một Thứ trưởng Ngoại giao Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa đã chính thức nói với Trung-Cộng rằng "đứng về quan điểm lịch sử" thì hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa "là lãnh thổ của Trung-quốc". Hơn nữa, trong các văn thư ngoại giao và tuyên cáo ngày 14.9.1958 và 9.5.1965 chính phủ Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng đã nhìn nhận chủ quyền của Trung-quốc trên hai quần đảo này.

Qua hai chi tiết này chúng ta biết thêm được rằng một luận cứ khác của Bắc-kinh đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa là chính phủ Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng đã nhìn nhận chủ quyền đó thuộc Trung-quốc. Có điều đáng tiếc là bức giác thư này không nói rõ tên của viên thứ trưởng ngoại giao Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa đã nhìn nhận chủ quyền của Trung-quốc và ông ta đã tuyên bố như vậy trong trường hợp nào, ở đâu, ngày nào, với ai, và nguyên văn lời tuyên bố đó ra sao. Hơn nữa vì bức văn thư ngoại giao và tuyên cáo ngày 14.9.1958 và 9.5.1965 của Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa không hề được công bố nên chúng ta không thể kiểm chứng những điều bức giác thư nêu ra xem có đúng sự thực không hay đã bị bóp méo, sửa đổi cho hợp với lập luận hay mục đích của Trung-Cộng, một việc dễ xảy ra và thường xảy ra.

Tuy nhiên, dù bức giác thư có trích dẫn đứng đắn các lời tuyên bố của Hà-nội, chúng ta thấy việc nhìn nhận của Hà-nội không phản ảnh quan điểm thực và lâu dài của nhà cầm quyền Hà-nội, mà chỉ là nhìn nhận có tính cách giai đoạn thôi. Thực vậy, vẫn theo bức giác thư, Phạm-văn-Đồng đã có lần giải thích là những lời tuyên cáo ủng hộ chủ quyền của Trung-quốc đối với Hoàng-sa và Trường-sa này được đưa ra chẳng qua là vì trong thời gian kháng chiến(71) "lẽ dĩ nhiên là chúng tôi phải đặt việc chống đế quốc chủ nghĩa Hoa-kỳ lên trên mọi việc khác." Về giải thích này, Lý Tiên-niệm đã đáp lại là các vấn đề chủ quyền lãnh thổ cần phải được cứu xét một cách nghiêm túc.

Ngoài ra, Lý Tiên-niệm còn cho biết là sự thay đổi lập trường của Hà-nội đã xảy ra vào năm 1974 và 1975 khi Việt-nam Dân-chủ Cộng-hòa đã "lợi dụng cơ hội giải phóng miền nam Việt-nam để xâm chiếm sáu đảo trong nhóm quần đảo Nam-sa của Trung-quốc." Cũng cần nói thêm ở đây là bức giác thư còn nói là thái độ của Nga-sô về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Nam-sa và Tây-sa cũng đã thay đổi vào năm 1975.


3. Phản Đề Nghị của Trung-Cộng Ngày 26.4.1979

Để trả lời một đề nghị của Hà-nội nhằm giải quyết cuộc tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa ngày 26.4.1979, Thứ trưởng Ngoại giao Trung-Cộng Hàn Niệm-long đã đưa ra phản đề nghị của Bắc-kinh(72). Bắc-kinh đề nghị là trong khi chờ đợi một cuộc dàn xếp về vấn đề biên giới trên căn bản Hòa ước Pháp-Hoa(73), hai nước Việt-nam và Trung-quốc nên tôn trọng ranh giới đã được đôi bên đồng lòng thỏa thuận năm 1957 là lãnh hải nên được hoạch định một cách công bằng và hợp lý theo các nguyên tắc hiện tại của luật quốc tế và Việt-nam phải "quay trở lại lập trường trước".

Ở đây chúng ta không cần nói tới đề nghị dàn xếp vấn đề biên giới Việt-Hoa trên căn bản Hoà ước Pháp-Hoa, vì không phải là trọng tâm của bài này, mà chỉ bàn về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa. Về điểm này, chúng ta nhận thấy có sự mâu thuẫn và phi lý trong luận cứ của Trung-Cộng. Trung-Cộng đã một mặt chủ trương giải quyết vấn đề ranh giới lãnh hải, hay nói cách khác là chủ quyền lãnh hải, một cách công bằng và hợp lý theo các nguyên tắc hiện tại của luật quốc tế, nhưng mặt khác lại đòi Việt-nam phải quay trở lại lập trường trước, tức là phải công nhận chủ quyền của Trung-Cộng trên hai quần đảo đương tranh Hoàng-sa và Trường-sa.

Một trong những nguyên tắc căn bản và sơ đẳng của việc giải quyết một tranh chấp, một mâu thuẫn hay một xung đột nào, dù là ở trên lãnh vực quốc gia hay trong lãnh vực quốc tế, là hai bên tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng vào lúc đưa việc tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột ra giải quyết. Đối tượng của sự giải quyết ở đây là sự bất đồng, nó là nguyên nhân hay nguyên động lực của sự tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột. Nếu một bên đương tranh bị bắt buộc phải công nhận trước quan điểm hay đòi hỏi của đối phương trước khi cuộc tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột được mang ra giải quyết thì sự giải quyết không còn đối tượng nữa. Nếu có giải quyết thì chẳng qua chỉ là làm một việc thừa. Hơn nữa, giải quyết theo kiểu này thì đâu còn công bằng và hợp lý nữa?

Sở dĩ Trung-Cộng đòi hỏi một cách phi lý và mâu thuẫn như vậy có lẽ là vì biết rằng nếu áp dụng một cách đứng đắn, công bằng và hợp lý các nguyên tắc của luật quốc tế đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thì Trung-Cộng sẽ bị thua do lẽ Trung-Cộng, và cả Đài-loan nữa, không thể nào chứng minh một cách đứng đắn, thành thực và phi chính trị được là chủ quyền đó thuộc về Trung-quốc. Đấy là chưa kể một nguyên nhân khác là Trung-Cộng biết rằng khi đó (năm 1979) Việt-nam, vốn bị cô lập trên trường quốc tế, vẫn cần đến sự giúp đỡ và chống lưng của Trung-Cộng nên dù đòi hỏi của Trung-Cộng có phi lý và mâu thuẫn thế nào đi chăng nữa, Việt-nam cũng sẽ bắt buộc phải chịu theo.


4. Tuyên Bố Tháng 9/1983

Vào đệ tam tam cá nguyệt 1983, trong một buổi họp báo hàng tuần tại Bắc-kinh(74), phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung-Cộng là Qi Huaiyuan (chúng tôi không rõ âm Hán-Việt của tên này) đã cho hay là gần đây có quân lính ngoại quốc chiếm đóng bất hợp pháp ám tiêu Danwan(75) và một vài quốc gia đã liên tiếp đòi chủ quyền lãnh thổ trên một vài hòn đảo và ám tiêu thuộc nhóm quần đảo Nam-sa. Vì vậy, ông nhắc lại lập trường cố hữu của Trung-Cộng là chủ quyền của Trung-quốc trên quần đảo Nam-sa ở Nam-hải không thể để cho bất cứ nước nào vi phạm, vì bất cứ lý do gì hay bằng bất cứ cách nào. Đoạn ông nói thêm là:


"Bộ Ngoại giao nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa nhắc lại là Trung-quốc có chủ quyền bất khả tranh nghị trên quần đảo Nam-sa cùng các hải khu lân cận, và các tài nguyên thiên nhiên ở những vùng này thuộc về Trung-quốc."

Tuy lời tuyên bố trên không có gì mới lạ, nhưng chúng ta thấy Trung-Cộng đã càng ngày càng để lộ rõ lý do Trung-quốc cố đòi chủ quyền trên quần đảo Trường-sa, cũng như quần đảo Hoàng-sa: đó là kho tài nguyên thiên nhiên, hay nói cho đúng hơn là những túi dầu, ở vùng này. Vì vậy, trong lần tuyên bố này, Trung-Cộng đã nhấn mạnh bằng cách thêm câu "các tài nguyên thiên nhiên ở những vùng này thuộc về Trung quốc" sau khi nói về chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung-quốc trên quần đảo và những hải khu lân cận. Hơn nữa, trong khi những tuyên bố trước chỉ nói đến tính cách bất hợp pháp của việc bất cứ quốc gia nào khác chiếm đóng hai quần đảo Hoàng-sa và Trường-sa thôi, lần này Qi Huaiyuan còn nói đến tính cách bất hợp pháp và không thể chấp nhận của sự khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở đây cùng những hoạt động khác nữa.


"Việc bất cứ một quốc gia nào khác chiếm đóng bất cứ một hòn đảo nào trong quần đảo Nam-sa và khai thác cũng như các hoạt động khác ở những vùng này là việc làm bất hợp pháp và không thể chấp nhận được."


Bookmark bài viết này:  del.icio.us  yahoo! myweb  Google  Windows Live  stumbleupon

Copyright © 2007
Designed by CA-Group
All rights reserved

Những tài liệu trên trang web này có bản quyền thuộc VIN. Ngoài những tài liệu đã ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, tất cả những tài liệu trên trang web này là công trình của các thành viên tham gia mà chưa từng công bố hoặc xuất bản ở một nơi nào khác. Các tác giả giữ bản quyền bài viết của chính mình và có toàn quyền gửi các bài viết của mình tham dự hội nghị hoặc đăng trên các tạp chí khác. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, lưu trữ và sử dụng tài liệu trên trang web ngoài mục đích giáo dục. Mọi trích dẫn đều phải ghi rõ nguồn: http://www.vinavigation.net. Mọi thư từ liên hệ xin gửi về webmaster@vinavigation.net. Bản quyền © 2007-2008 VIN. Copyright © 2007-2008 VIN.